Trong xu hướng du lịch toàn cầu đang chuyển mạnh từ “tham quan” sang “trải nghiệm”, từ khai thác tài nguyên đơn thuần sang khai thác chiều sâu văn hóa, các làng nghề truyền thống ngày càng trở thành một cấu phần quan trọng của hệ sinh thái điểm đến. Đối với Ninh Bình - vùng đất hội tụ những giá trị nổi bật về thiên nhiên, lịch sử và văn hóa, hệ thống làng nghề không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc mà còn mở rộng không gian trải nghiệm, đa dạng hóa sản phẩm và gia tăng giá trị cho ngành Du lịch.
Với lợi thế sở hữu đồng thời di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và mạng lưới làng nghề lâu đời, Ninh Bình có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các sản phẩm du lịch giàu bản sắc. Trong đó, làng nghề truyền thống không chỉ lưu giữ tinh hoa nghề cổ mà còn mở ra những không gian trải nghiệm văn hóa đặc sắc, góp phần nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến.
Sau khi hợp nhất đơn vị hành chính cấp tỉnh, Ninh Bình hiện có 171 làng nghề, trong đó 54 làng nghề truyền thống được công nhận; 09 nghề thủ công truyền thống được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; hơn 102.500 cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn với gần 200 nghìn lao động tham gia. Đây không chỉ là nguồn lực kinh tế quan trọng mà còn là kho tàng di sản sống, lưu giữ tinh hoa nghề thủ công, tri thức dân gian và bản sắc văn hóa của nhiều cộng đồng cư dân.Những con số ấy phản ánh không chỉ quy mô và sức sống của kinh tế làng nghề mà còn cho thấy chiều sâu văn hóa của vùng đất giàu truyền thống, nơi mỗi làng nghề là một “bảo tàng sống”, lưu giữ kỹ năng nghề, phong tục, tập quán và những câu chuyện văn hóa được truyền nối qua nhiều thế hệ.
Từ tiếng đục đá ngân vang ở Ninh Vân, những đường kim mũi chỉ tinh xảo của Văn Lâm, ánh lửa đỏ trong các lò đúc đồng Tống Xá, sắc cói Kim Sơn, âm vang trống Đọi Tam đến những tấm lụa mềm mại của Cổ Chất, Nha Xá…, mỗi làng nghề đều mang một dấu ấn văn hóa riêng. Không chỉ tạo nên những sản phẩm thủ công đặc sắc, các làng nghề còn lưu giữ ký ức cộng đồng, phản ánh lịch sử hình thành vùng đất và bàn tay tài hoa của bao thế hệ nghệ nhân. Sự đa dạng ấy tạo nên bức tranh văn hóa nghề truyền thống đặc sắc, góp phần làm nên bản sắc riêng của Ninh Bình và trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch trải nghiệm.
Bên cạnh giá trị văn hóa, kinh tế làng nghề đang đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Năm 2025, tổng doanh thu của các làng nghề đạt khoảng 10.316 tỷ đồng, trong đó giá trị xuất khẩu đạt khoảng 1.014 tỷ đồng, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng bền vững và gìn giữ sinh kế cho nhiều cộng đồng dân cư.
Xu hướng du lịch hiện nay đang chuyển từ hình thức tham quan đơn thuần sang trải nghiệm chân thực, nơi du khách được hòa mình vào đời sống văn hóa bản địa, gặp gỡ người dân địa phương và trực tiếp tham gia các hoạt động truyền thống. Đây chính là lợi thế nổi bật của du lịch làng nghề Ninh Bình.
Sức hấp dẫn của du lịch làng nghề không nằm ở việc quan sát quy trình sản xuất, mà ở khả năng tạo ra sự tương tác và kết nối cảm xúc. Khi trực tiếp chạm tay vào từng công đoạn làm nghề, trò chuyện với nghệ nhân, thưởng thức ẩm thực địa phương và tự mình tạo nên một sản phẩm thủ công, du khách không chỉ mang về một món quà lưu niệm mà còn mang theo những ký ức và trải nghiệm khó có thể thay thế. Chính giá trị đó đang tạo nên sức cạnh tranh ngày càng lớn của du lịch làng nghề trong bối cảnh nhu cầu trải nghiệm ngày càng được đề cao.
Khi được kết nối với các tuyến, điểm du lịch trọng điểm như Quần thể danh thắng Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, Cố đô Hoa Lư, Nhà thờ đá Phát Diệm…, các làng nghề Ninh Vân, Văn Lâm, Kim Sơn, Tống Xá, Cổ Chất, Nha Xá, Đọi Tam… sẽ hình thành chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc, góp phần đa dạng hóa hệ sinh thái sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách.
Nếu di sản thiên nhiên mang đến vẻ đẹp kỳ vĩ của cảnh quan thì làng nghề lại mang đến chiều sâu của văn hóa. Nếu các công trình lịch sử kể câu chuyện về quá khứ thì người nghệ nhân chính là những “người kể chuyện” bằng đôi bàn tay tài hoa và những sản phẩm thủ công được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Chính sự giao thoa giữa di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và làng nghề truyền thống đã tạo nên sức hấp dẫn riêng có của du lịch Ninh Bình.
Tuy vậy, du lịch làng nghề ở Ninh Bình vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng. Không ít làng nghề mới dừng ở hoạt động sản xuất, chưa hình thành sản phẩm du lịch hoàn chỉnh; hoạt động trải nghiệm còn đơn điệu, thiếu tính tương tác và chưa được kết nối hiệu quả với doanh nghiệp lữ hành cũng như các khu, điểm du lịch. Hạ tầng phục vụ khách, không gian trải nghiệm, trưng bày sản phẩm, hoạt động quảng bá, xây dựng thương hiệu và chuyển đổi số còn hạn chế. Một số nghề truyền thống đứng trước nguy cơ mai một do thiếu lực lượng kế cận, trong khi vấn đề môi trường ở một số làng nghề vẫn cần tiếp tục được quan tâm giải quyết.
Để làng nghề thực sự trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, điều quan trọng không chỉ là bảo tồn nghề mà còn phải bảo tồn gắn với phát triển. Các giá trị truyền thống cần được chuyển hóa thành trải nghiệm du lịch thông qua thiết kế sản phẩm, xây dựng câu chuyện, ứng dụng công nghệ số, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường liên kết với doanh nghiệp lữ hành. Khi cộng đồng địa phương trở thành chủ thể của hoạt động du lịch, người dân vừa là người gìn giữ di sản, vừa là người trực tiếp hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Trong hành trình xây dựng Ninh Bình trở thành đô thị di sản thiên niên kỷ và trung tâm du lịch di sản, văn hóa, sáng tạo của Việt Nam, làng nghề truyền thống không chỉ là nơi lưu giữ ký ức cộng đồng mà còn là nguồn lực quan trọng để làm giàu hệ sinh thái du lịch. Khi những giá trị truyền thống được bảo tồn bằng sức sống của cộng đồng, được kết nối với công nghệ, với sáng tạo và với thị trường du lịch hiện đại, mỗi làng nghề sẽ trở thành một điểm đến văn hóa, mỗi nghệ nhân sẽ là một “đại sứ” kể câu chuyện về vùng đất, góp phần lan tỏa hình ảnh một Ninh Bình giàu bản sắc, thân thiện và hấp dẫn đến với du khách trong nước và quốc tế.
ĐTH