Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã luôn coi trọng vai trò của văn hóa đối với tiến trình cách mạng của dân tộc. Bước vào thời kỳ đổi mới, quan điểm về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đất nước dần hoàn thiện qua mỗi kỳ Đại hội. Trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV, Đảng ta đã khẳng định “Phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước”[1]. Văn hóa - “hệ điều tiết phát triển đất nước” là quan điểm mới về văn hóa của Đảng. Quan điểm này không chỉ thể hiện sự phát triển tư duy của Đảng mà còn mở ra những hướng đi mới cho sự phát triển của văn hóa nói riêng, sự phát triển của đất nước nói chung trong kỷ nguyên mới.
Sự phát triển trong quan điểm của Đảng về vai trò của văn hóa
Năm 1987, Nghị quyết số 05-NQ/TW xác định: văn hóa “là một động lực mạnh mẽ, đồng thời là một mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Quan điểm này cho thấy vị trí quan trọng của văn hóa trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Văn hóa là một động lực bởi năng lực sáng tạo của con người - chủ thể của mọi hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội. Bên cạnh đó, văn hóa là một mục tiêu vì xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ hướng tới tăng trưởng kinh tế mà còn nhằm tạo lập một đời sống tinh thần phong phú, nhân văn và tiến bộ.
Đến năm 1993,Nghị quyết Trung ương bốn khóa VII khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”. Như vậy, quan điểm của Đảng về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đã được bổ sung và xác định rõ thêm: văn hóa là “nền tảng tinh thần của xã hội”. Văn hóa không chỉ thúc đẩy và định hướng sự phát triển mà còn giữ vai trò làm nền tảng tinh thần cho toàn bộ đời sống xã hội. Điều này cho thấy, đến năm 1993, quan điểm của Đảng đã bao quát hơn, thể hiện sự nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững.
Năm 1998, Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII cho thấy sự hoàn thiện hơn về trong tư duy lý luận của Đảng về vai trò của văn hóa trong phát triển khi khẳng định “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Quan điểm này cho thấy mối quan hệ biện chứng giữa các vai trò của văn hóa. Văn hóa không chỉ làm nền tảng giá trị mà còn tham gia trực tiếp vào mọi quá trình phát triển, trở thành yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Năm 2014, Nghị quyết Hội nghị Trung ương chín khóa XI khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước”. Một lần nữa, Đảng ta đã có sự phát triển quan trọng trong tư duy về văn hóa nói chung, về vai trò của văn hóa nói riêng. Đặc biệt, quan điểm này đã gắn văn hóa với yêu cầu phát triển bền vững. Điều này cho thấy văn hóa không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn định hướng chất lượng, chiều sâu và tính bền vững của quá trình phát triển. Qua đó, văn hóa được nâng lên tầm chiến lược trong mọi lĩnh vực.
Năm 2025, Trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV, Đảng ta đã mở rộng vai trò của văn hóa là hệ điều tiết của quá trình phát triển đất nước. Điều đó cho thấy sự chuyển biến từ cách tiếp cận “coi trọng vai trò văn hóa” sang “vận dụng văn hóa như một cơ chế điều tiết”, khẳng định vị trí trung tâm của con người và giá trị văn hóa trong mô hình phát triển hiện đại.
Hướng đi mới của văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Việc xem văn hóa là “hệ điều tiết phát triển đất nước” đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ với những biến đổi nhanh ở trong nước và quốc tế. Văn hóa là “hệ điều tiết phát triển đất nước” cũng tạo nên hướng đi mới của sự phát triển bền vững đất nước nói chung.
Trước hết, văn hóa định hướng hành vi của mỗi cá nhân và cộng đồng thông qua hệ giá trị, chuẩn mực và niềm tin xã hội. Hệ giá trị dân tộc như yêu nước, nhân ái, đoàn kết, cần cù, sáng tạo… cùng những chuẩn mực hiện đại như tôn trọng pháp luật, minh bạch, trách nhiệm và liêm chính…sẽ định hướng hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Hệ giá trị, chuẩn mực giúp mỗi cá nhân và cộng đồng lựa chọn hành vi phù hợp, tránh hiện tượng lệch chuẩn, cực đoan hay bị cuốn theo những xu hướng không phù hợp. Nói cách khác, văn hóa như một hệ quy chiếu, bảo đảm sự kiên định tuân thủ hệ giá trị, chuẩn mực trong điều kiện xã hội biến đổi nhanh chóng.
Ngoài ra, văn hóa tham gia điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Điều này đặc biệt quan trọng trong một xã hội đa chiều, cạnh tranh gay gắt và nguy cơ xung đột xã hội tiềm ẩn ở mọi nơi. Văn hóa điều tiết các mối quan hệ thông qua các thể chế, thiết chế xã hội – gia đình, cộng đồng, thiết chế văn hóa cơ sở, luật tục và niềm tin xã hội. Những yếu tố này giúp cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm và sự cống hiến, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa truyền thống và hiện đại. Trong môi trường số, các mối quan hệ được tái cấu trúc, từ quan hệ lao động, quan hệ kinh tế đến truyền thông, tương tác xã hội... Việc văn hóa giữ vai trò điều tiết giúp ngăn ngừa các rạn nứt xã hội như mất kết nối cộng đồng, suy giảm niềm tin hay xung đột giá trị. Đồng thời, văn hóa còn điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể như: giữa Nhà nước và thị trường, giữa doanh nghiệp và người lao động, giữa cá nhân và cộng đồng. Nhờ đó, văn hóa duy trì sự ổn định, củng cố nền tảng đạo đức xã hội, giảm thiểu các tác động tiêu cực của các yếu tố đến sự phát triển đất nước.
Hơn nữa, văn hóa là hệ điều tiết phát triển đất nước còn thể hiện ở việc bảo đảm phát triển cân bằng, nhân văn, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Trong chuyển đổi số và kinh tế thị trường, phát triển nhanh có thể dẫn tới bất bình đẳng, lãng quên giá trị nhân văn, gia tăng khoảng cách xã hội hoặc lệ thuộc công nghệ. Văn hóa gắn với con người, đề cao sức sáng tạo, phẩm giá của con người cũng như sự công bằng, tinh thần cộng đồng sẽ giúp cân bằng giữa tốc độ và chất lượng, giữa lợi ích kinh tế và công bằng, phúc lợi xã hội, giữa phát triển xã hội và đảm bảo môi trường. Đây cũng là yếu tố nhằm bảo đảm các thành tựu khoa học công nghệ được sử dụng vì con người, không làm suy giảm quyền riêng tư, liêm chính xã hội, lợi ích quốc gia. Hơn nữa, văn hóa hướng tới sự phát triển toàn diện, bên vững và bao trùm, khuyến khích tinh thần trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự tử tế trong không gian số và sự lan tỏa của lối sống bền vững.
Mặt khác, văn hóa là hệ điều tiết phát triển bền vững đất nước cũng là điều chỉnh lựa chọn hoạt động kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, bảo đảm môi trường,phát huy giá trị di sản văn hóa. Hệ thống giá trị, chuẩn mực văn hóa thúc đẩy lối sống xanh, tiêu dùng có trách nhiệm và tinh thần tôn trọng tự nhiên, chúng đồng thời nuôi dưỡng tư duy tuần hoàn trong sản xuất và sinh hoạt, hình thành thói quen tái sử dụng, tiết giảm khai thác tài nguyên hóa thạch và không ngừng đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, phát triển công nghiệp văn hóa sẽ thúc đẩy việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đưa di sản văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế, nhưng sử dụng theo cách bền vững và có kiểm soát. Sự hòa quyện giữa các giá trị xanh, tuần hoàn và phát huy giá trị di sản đang là hướng đi mà Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đang hướng tới.
Một số góp ý với Dự thảo văn kiện để đảm bảo thực hiện vai trò văn hóa là hệ điều tiết phát triển đất nước
Trước tiên, văn kiện cần xác định rõ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây là nhiệm vụ đã được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ XIII. Tuy nhiên, đến nay, các hệ giá trị, chuẩn mực này vẫn chưa được khẳng định trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Việc xác định rõ các hệ giá trị, chuẩn mực này rất quan trọng để văn hóa thực hiện vai trò là “hệ điều tiết phát triển đất nước”. Bởi lẽ, mọi suy nghĩ, lựa chọn hành động của mỗi cá nhân, cộng đồng đều dựa trên nhu cầu, lợi ích, quy định pháp luật và hệ giá trị, chuẩn mực của dân tộc. Trong đó, hệ giá trị, chuẩn mực có thể tác động lớn đến nhu cầu, lợi ích, quy định pháp luật. Ngoài ra, hệ giá trị, chuẩn mực cũng tác động đến điều hòa quan hệ xã hội, góp phần ổn định xã hội, phát triển cân bằng, bền vững. Hệ giá trị, chuẩn mực sẽ la tiêu chí tham chiếu cho các chính sách phát triển, giúp cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn và lợi ích lâu dài của cộng đồng, qua đó ngăn chặn các mô hình tăng trưởng gây tổn hại sinh thái hoặc làm suy thoái bản sắc văn hóa.
Hai là, Dự thảo cần có thêm nội dung về nâng cao năng lực quản trị văn hóa ở mọi cấp. Hiện nay, đất nước đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, đòi hỏi không chỉ chú trọng đến vấn đề lãnh đạo, quản lý văn hóa mà còn khả năng quản trị văn hóa ở mọi cấp. Điều này nhằm bảo đảm các giá trị văn hóa được chuyển hóa thành thực tiễn phát triển. Quản trị văn hóa gồm việc nâng cao năng lực dự báo văn hóa, đánh giá tác động văn hóa trong các dự án kinh tế – xã hội, áp dụng công nghệ số trong quản lý di sản và không gian văn hóa, cũng như xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa có tư duy bền vững, am hiểu cả kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và quản lý tài nguyên. Quản trị văn hóa mạnh sẽ giúp phát hiện sớm các nguy cơ gây tổn hại đến di sản, cảnh quan và các giá trị xã hội, từ đó hạn chế xung đột giữa phát triển và bảo tồn.
Ba là, đẩy mạnh xây dựng văn hóa số để tạo nền tảng lan tỏa giá trị văn hóa sâu rộng hơn, đồng thời hình thành các mô hình phát triển mới. Văn hóa số giúp số hóa di sản, phát triển bảo tàng số, không gian văn hóa số, môi trường văn hóa số, nâng cao khả năng tiếp cận tri thức văn hóa cho cộng đồng, đồng thời mở ra cơ hội ứng dụng dữ liệu lớn trong bảo vệ môi trường, quản trị tài nguyên, kiểm soát tiêu dùng và sản xuất bền vững. Văn hóa số cũng góp phần hình thành thói quen học tập suốt đời, lối sống văn minh, minh bạch và trách nhiệm – những yếu tố quan trọng của phát triển bền vững. Khi hạ tầng số được gắn kết với các giá trị văn hóa, nó sẽ trở thành công cụ tăng cường hiệu lực điều tiết của văn hóa đối với hành vi xã hội và mô hình phát triển.
Như vậy, với quan điểm văn hóa là “hệ điều tiết phát triển đất nước” trong Dự thảo văn kiện, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong phát triển đất nước. Giờ đây, văn hóa là lực lượng định hình cấu trúc phát triển mới của Việt Nam. Với quan điểm này, Đảng ta không chỉ bổ sung vai trò của văn hóa đối với sự phát triển nhanh và bền vững đất nước mà còn phù hợp với hợp với thời đại.
Tác giả: Bùi Thị Kim Chi
Tiến sĩ Viện Văn hóa và Phát triển
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
[1]Ban Chấp hành Trung ương: Dự thảo Báo cáo chính trị của ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội ngày 14/10/2025, tr.27-28.